Home / Thời tiền sử / Văn hóa Đông Sơn thời kỳ hoàng kim của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Văn hóa Đông Sơn thời kỳ hoàng kim của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Văn hóa Đông sơn thuộc thời đại đồng thau – sắt sớm (sơ kỳ thời đại đồ sắt). Địa bàn phân bố của nền văn hóa Đông Sơn phân bổ khắp miền Bắc đến phía Nam Đèo Ngang thuộc Quảng Bình Ngày nay. Theo thống kê sơ bộ, từ năm 1924 đến nay đã phát hiện và tiến hành nghiên cứu 275 địa điểm thuộc Văn hóa Đông Sơn. Kết quả nghiên cứu ở 28 tỉnh thành cho biết Văn hóa Đông Sơn có 379 di tích.

Vị trí địa lý phân bổ của các di tích Văn hóa Đông Sơn

Di tích của Văn hóa Đông Sơn được tìm thấy trên nhiều địa hình, từ miền thượng du đến đồng bằng ven biển. Cũng có khi là một cụm di tích. Như Di tích Quang Vinh thuộc Hoài Đức, di tích Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, di  tích Đông Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa, di tích Làng Vạc thuộc tỉnh Nghệ An…

Nhìn chung cư dân Đông Sơn đã chiếm những vùng đất cao ven đồi, ven sông, thuận tiện cho việc đi lại. Họ thực sự đã làm chủ được vùng thung lũng núi và những vùng đất cao ở Đồng bằng Bắc bộ.

Văn hóa Đông Sơn phát triển ở cả ba khu vực, mà mỗi khu vực đó đều có nguồn gốc địa phương.

          đồng bằng sông Hồng bắt nguồn từ văn hóa Gò Mun

          Khu vực sông Mã phát triển từ văn hóa hay nhóm di tích Quỳ Chử

          Lưu vực sông Cả là nhóm di tích Rú Trăn

Qua các kết quả xác định C14 (giám định Cacbon) cho biết nền Văn hóa Đông Sơn có niên đại vào khoảng TK VIII TCN và kết thúc vào TK II SCN.

Các hiện vật nền Văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn được biết đến dựa trên việc thu thập, nghiên cứu một khối lượng hiện vật vô cùng phong phú. Chúng được chế tác từ đá, gốm, thủy tinh và đồng. Trong nền văn hóa này đồ đá không còn là loại công cụ phổ biến. Tuy nhiên, một số loại rìu tứ giác, rìu có vai, bàn mài, bàn kê…cho đến các khuân đúc bằng đá vẫn được sử dụng, nhưng với số lượng không nhiều. Riêng với đồ trang sức bằng đá như vòng tay, vòng tai, chuỗi hạt bằng thạch anh, mã não vẫn được cư dân Đông Sơn sử dụng nhiều.

Vật dụng bằng gốm

Đồ gốm là loại di vập thường thu được khá nhiều trong các di chỉ giai đoạn Đông Sơn. Đồ gốm vẫn là vật được sửu dụng khá phổ biến trong đời sống của cư dân Đông Sơn. Không những thế, đồ gốm còn được sử dụng làm quan tài, đồ tùy tang, mảnh gốm vỡ một số nơi còn dung làm vật kê hay lát mộ người chết.

vò gốm chi chỉ đình trang - văn hóa đông sơn
Vò gốm chi chỉ Đình Tràng – Văn hóa Đông Sơn

Đồ gốm Đông Sơn về loại hình gốm khuôn đúc; nồi nấu đồng; dọi xe chỉ; đồ gia dụng như: bình, vò, chậu, bát… Về kiểu dáng và hoa văn trang trí giai đoạn đầu vẫn tiếp thu, kế thừa truyền thống gốm Gò Mun. Giai đoạn muộn đã có biểu hiện về dự suy thoái thể hiện ở việc thể hiện hoa văn trang trí nghèo nàn.

Đồ thủy tinh

Ở giai đoạn Văn hóa Đông Sơn vào khoảng TK V TCN thuộc sơ kỳ đồ sắt đã tìm thấy nhiều đồ trang sức thủy tinh. Với 5000 hiện vật bao gồm vòng tay, khuyên tai và hạt chuỗi. Phần lớn chúng được làm từ thủy tinh nhân tạo với đủ các màu sắc.  Từ trắng đục đến xanh đen, da cam, tím, đỏ. Kỹ thuật chế tạo thủy tinh chưa đạt đến mức độ điêu luyện, do còn bọt khí, chưa phối được màu, mới chỉ chế tạo được màu sắc đơn lẻ.

Đồ tre, gỗ

Những vết tích và di vật về đồ gỗ, tre, nứa lá cũng được tim thấy trong Văn hóa Đông Sơn. Hình nhà sàn và hình thuyền được khắc trên trống đồng Đông Sơn. Mộ Việt Khê, quan tài là cả một thân cây gỗ rất lơn, dài 4,76m rộng đến 0,77m. Chứng tỏ đương thời nghề mộc đã phổ biến và thành thục.

Mộ thuyền - Văn hóa Đông Sơn
Mộ thuyền – Văn hóa Đông Sơn

Nếu nghề mộc chưa khéo thì cư dân Đông Sơn khó có thể dựng lên những ngôi nhà sàn chắc và đẹp như ta thấy trên trống đồng để cư chú lâu dài. Hoặc khó có thể hạ và đục khoét những thân cây gỗ lớn để làm quan tài như mộ Việt Khê. Rõ ràng những đồ gỗ, tre, nứa, lá đã tham gia tích cực vào đời sống của cư dân Đông Sơn.

Đồ đồng

Văn hóa Đông Sơn nổi tiếng bởi bộ sưu tập đồ đồng. Các di vật đồ đồng vô cùng phong phú về số lượng, loại hình đa dạng. Đạt trình độ cao về kỹ thuật chế tác. Diện mạo của đồ đồng Đông Sơn mang sắc thái của một nền văn hóa riêng. Nó không giống bất cứ một nền văn hóa nào trong khu vực và trên thế giới.

Công cụ sản xuất và chiến đấu

Đồ đồng dùng làm công cụ sản xuất gồm rìu, lưỡi xéo hình bàn chân. Chúng được gót tròn hoặc gót vuông, rìu hình chữ nhật, rìu xòe cân bán nguyệt, rìu xòe cân hình cung, rìu lưỡi lệch… Trên một số chiếc rìu người Đông Sơn khắc hoa văn sinh động như hình người, hình động vật, hoa văn hình học. Rìu là công cụ quý dùng để phát cây làm nương rẫy, làm vườn quanh nơi cư chú, dùng để đẽo cột dựng nhà. Rìu là thứ vũ khí chiến đấu chống thú dữ hoặc chống lại kẻ thù để bảo vệ bộ lạc. Chiếc rìu đồng, sau này là rìu sắt, đã gắn bó với con người lâu dài từ thời tiền sử cho tới ngày nay.

Công cụ sản xuất

Lưỡi cày đồng với nhiều hình dáng khác nhau như lưỡi cày hình quả tim, hình tam giác, hình chân vịt, hình cánh bướm. Cho đến nay đã tìm thấy gần 200 chiếc lưỡi cày với 4 loại hình nêu trên. Việc tìm thấy nhiều lưỡi cày đồng, hiện vật độc đáo của Văn hóa Đông Sơn cho thấy một nền nông nghiệp dùng cày đã được áp dụng. Việc dùng người hay trâu, bò làm sức kéo còn cần phải tiếp tục được nghiên cứu. Trong các di chỉ được tìm thấy của cư dân Đông Sơn cũng đã tìm thấy nhiều xương trâu, bò. Có thể Trâu, bò là vật nuôi thân thiết trong nhà của người Đông Sơn.

Lưỡi cày đồng - văn hóa đông sơn
Lưỡi cày đồng – văn hóa đông sơn

Cuốc đồng, xẻng đồng, thuổng đồng là những nông cụ khá quen thuộc của cư dân Đông Sơn. Dùng để làm ruộng hoặc để làm vườn xung quanh nhà, tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm nuôi sống chính mình.

Người Đông Sơn đã làm ra những lưỡi dao gặt, lưỡi liềm hay lưỡi nhíp bằng đồng để thu hoạch lúa rất thuận tiện.

Đục có loại đục vũm, đục lưỡi dẹt chuôi đặc. Đó là dụng cụ không thể thiếu khi làm mộc.

Công cụ sản xuất còn có loại kim, đinh ba, đinh hai, lưỡi câu, dao, đao khắc và mọc bằng đồng.

Người Đông Sơn còn làm ra quả cân bằng đồng để thay cho quả cân bằng đá trước đó. Theo đoán định, quả cân dùng để cân đồng, thiếc trước khi đục, luyện hay chế tác đồ vật.

Vũ khí chiến đấu

Chủ nhân của nền Văn hóa Đông Sơn còn chế tạo ra nhiều loại vũ khí từ đồng. Đặc biệt là dưới thời nhà nước Âu Lạc. Loại dùng  để đánh xa, gồm có lao, đầu mĩi tên. Để bắn tên tất nhiên cần có cung, nỏ bằng gỗ hoặc bằng tre. Việc phát hiện bộ lẫy nỏ có hộp, có rãnh đặt múi tên, có nấc để giữ dây nỏ, có lẫy dùng để bóp cò không còn nguyên vẹn ở làng Vạc. Điều này cho thấy việc dùng nỏ của người Đông Sơn rất lợi hại khi săn bắn và chiến tranh là điều có thể tin được. Giáo hình búp đa, hình lá mía. Lao cũng giống như giáo nhưng kích thước nhỏ hơn.

Múi tên đồng - Văn hóa Đông Sơn
Múi tên đồng – Văn hóa Đông Sơn
Lẫy nỏ- văn hóa đông sơn
Lẫy nỏ- văn hóa đông sơn

Loại vũ khí đánh gần có dao găm. Dao găm có nhiều kiểu dựa vào phần cán và đốc chắn. nhiều chiếc dao găm được đúc rất công phu. Chuôi dao được đục hình tượng người nam hoặc người nữ, y phục trang trí hoa văn đẹp đẽ, sống động. Phần cán dao găm có những chiếc được chạm trổ rất độc đáo với hình tượng động vật như rắn ngậm chân hổ, hổ ngậm chân voi, hay răn ngậm chân voi…

Ngoài ra vũ khí của cư dân Đông Sơn còn có rìu chiến, búa chiến, bao tay, bao chân, tấm che ngực. Những tấm che ngực hình vuông hay hình chữ nhật, ở bốn góc đều có chỗ buộc dây. Trên tấm che ngực có trang trí hoa văn hình người hóa trang lông chim đang chèo thuyền như trên trống đồng. Một số tấm che ngực được tìm thấy trong mộ ở làng Cảm Thiệu Dương, Lập Phương đều có kích thước nhỏ lại rất mỏng.

Dụng cụ sinh hoạt

Giai đoạn Văn hóa Đông Sơn, đồ dùng sinh hoạt rất phong phú. Ví dụ như bình, lọ, vò, âu, nồi , ấm, chậu, bát, đĩa, khay… Đặc biệt là những chiếc thố và thạp được đúc với nhiều kích thước to nhỏ khác nhau, được trang trí hoa văn sinh động. Thạp đồng Đào Thịnh thuộc loại điển hình to và đẹp. trên nắp cũng có hoa văn giống như hoa văn trên trống đồng, và có 4 khối tượng người đôi nam nữ đang giao phối hồn nhiên. Thân thạp là những dải hoa văn hình thuyền, hình chim Lạc như trên trống đồng.

Thạp đồng Đào Thịnh - Văn hóa Đông Sơn
Thạp đồng Đào Thịnh – Văn hóa Đông Sơn
Tượng người đôi nam nữ trên Thạp đồng Đào Thịnh - Văn hóa Đông Sơn
Tượng người đôi nam nữ trên Thạp đồng Đào Thịnh – Văn hóa Đông Sơn

Chiếc muôi đông ở Việt Khê thuộc loại đẹp nhất. Đầu mục giống như chiếc ca hình trụ, cán dài, đầu uốn cong, trên đó gắn tượng người ngồi thổi khèn.

Muôi đồng Việt Khê - Văn hóa Đông Sơn
Muôi đồng Việt Khê – Văn hóa Đông Sơn

Như vậy, những trang trí hoa văn, hình tượng người, chim Lạc trên thạp, thố, muôi phản ánh khát vọng về một cuộc sống sinh sôi, no đủ của cư dân Đông Sơn.

Các loại nhạc cụ

Các loại nhạc cụ bằng đồng bao gồm cồng, chiêng, thanh la, lục lạc, khèn, chuông, trống. Nhưng các nhà khảo cổ cho tới ngày nay mới chỉ tìm thấy chuông và trống. Đặc biệt trống đồng rất đặc sắc, khiến nền Năn hóa Đông Sơn trở nên rất nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà cả ở trên thế giới.

Trống đồng thuộc loại di vật điển hình nhất Văn hóa Đông Sơn. Theo phân tích của F.Heger những trống đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn đều thuộc loại I (Heger I). Các nhà khoa học đều thống nhất gọi chúng là trống đồng Đông Sơn. Trong toàn bộ trống đồng đã tìm được cho tới ngày nay thì trống đồng Ngọc Lũ là tiêu biểu nhất cho trống đồng Đông Sơn. Địa bàn phân bổ tập trung nhất của trống đồng Đông Sơn là thuộc miền Bắc Việt Nam. Ngoài ra cũng có mặt ở Vân Nam – Quảng Tây Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Malaisia, Indonesia.

Đồ trang sức

Trong giai đoạn Văn hóa Đông Sơn đồ trang sức bằng đồng phong phú hơn trước. Bao gồm các loại vòng đeo cổ, đeo tay, đeo chân, khuyên tai, khóa thắt lưng. Tiêu biểu là chiếc khóa thắt lưng được tìm thấy ở Làng Cả gồm hai mảnh đồng nối với nhau bằng hai chiếc móc.  Mỗi mảng đúc nổi hình bốn tượng rùa cùng với nhiều hoa văn khác. Chiếc khóa thắt lưng tìm thấy ở Đông Sơn rất độc đáo cũng gồm hai mảng nối với nhau bằng móc. Những khóa dây lưng kiểu như ở làng Cả, Đông Sơn có lẽ dành cho những người thuộc tầng lớp trên.

đồ trang sức - văn hóa đông sơn
Đồ trang sức – văn hóa đông sơn

Loại tượng đồng ít gặp trong văn hóa Đông Sơn. Nhưng loại tượng tròn gắn trên các đồ vật lại rất phong phú, hơn hẳn những giai đoạn trước. Ví nhụ như đôi tượng nam nữ trên thạp đồng Đào Thịnh, tượng người thổi khèn trên muôi Việt Khê, tượng người trên cán dao găm, tượng cóc trên các trống đồng loại C. Hay như khối tượng rùa trên khóa thắt lưng, hoặc khối tượng chim đứng trên lưng voi ở Làng Vạc, tượng chó được gắn trên thanh đồng, trên mặt trống minh khí…

Tất cả những khối tượng người, các loài động vật đều hòa nhập vào thế giới hiện thực của người Việt cổ thời Đông Sơn. Tượng tròn Đông Sơn tuy chưa đạt đến đỉnh cao như kỹ thuật đúc hoa văn trên trống đồng, thạp. Nhưng đã góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn riêng biệt.

Đồ sắt trong Văn hóa Đông Sơn

Trong văn hóa Đông Sơn, đồ sắt chưa nhiều như đồ đồng, nhưng trong kỹ thuật khai mỏ, luyện quặng đã có những bước tiến đáng kể. Qua các quan sát thực nghiệm cho thấy bằng phương pháp hoàn nguyên hoặc thổi sống. Người Đông Sơn đã luyện ta sắt, đúc gang, chế tạo ra các công cụ sắt trong quá trình rèn và gia công nguội.

Đồ sắt thời kỳ này gồm công cụ như nồi nấu đồng, lưỡi mai, cuốc, liềm, dao, đục… cùng các loại vũ khí như giáo, lao, kiếm, rìu. Ngoài ra còn xuất hiện một số ít đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay và khuyên tai. Vào giai đoạn cuối Văn hóa Đông Sơn, sắt còn là thứ kim loại quý hiếm. Nhưng dựa vào những di vật sắt được tìm thấy chứng tỏ cư dân Đông Sơn đã làm chủ về kỹ thuật khai luyện và chế tạo các công cụ từ sắt. Bước nhảy vọt từ công cụ đồng sang công cụ sắt đã nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo đà cho những biến chuyển về kinh tế – xã hội mạnh mẽ.

Tài liệu: 

Lịch sử Việt Nam tập 1 – NXB Khoa học xã hội

Khảo cổ học Việt Nam tập 1

Khảo cổ học Việt Nam tập 2

About admin

Có thể bạn quan tâm

di chỉ núi đọ

Núi Đọ – Di chỉ khảo cổ học thời đại đá cũ

  Núi Đọ hay còn được gọi là núi Quy Sơn, được bồi đắp bởi …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *