Home / Thời tiền sử / Văn hóa Hòa Bình – Những khám phá về một nền văn hóa cổ

Văn hóa Hòa Bình – Những khám phá về một nền văn hóa cổ

Văn hóa Hòa Bình được giới khảo cổ học chính thức công nhận do đề xuất của Madeleine Colani. Được Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội  từ ngày 30 tháng 1 năm 1932 thông qua. Ban đầu, cụm từ này được dùng để nói đến nền văn hóa cuội được ghè đẽo trên khắp chu vi hòn cuội để tạo ra những dụng cụ từ thời đá cũ đến thời đá mới. Qua thời gian, cụm từ này đã được đề nghị mang những tên khác nhau và có những ý nghĩa cũng khác nhau. Hoạt động của các nhà khảo cổ học từ năm 1975 lại đây đã chỉ ra một hướng mới về quan niệm khác về thời đại cũng như không gian của Văn hóa Hòa Bình.

Giới thiệu chung

Văn hóa Hoà Bình thuộc thời Đồ đá cũ sang Đồ đá mới (cách ngày nay 15.000 năm, kéo dài đến 2.000 năm trước Công Nguyên). Trên vùng đất xen kẽ với núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn vùng Bắc Bộ Việt Nam. Tiêu biểu cho cả vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.

Dựa vào các di chỉ tìm thấy và niên đại, các nhà khảo cổ chia Văn hóa Hòa Bình thành ba thời kỳ:

  • Hòa Bình sớm: có niên đại tiêu biểu là di chỉ Thẩm Khuyên, Mái Đá Điều, Mái Đá Ngầm.
  • Hòa Bình giữa: tiêu biểu bởi di chỉ Xóm Trại, Làng Vành.
  • Hòa Bình muộn: tiêu biểu bằng di chỉ ở Thẩm Hoi, Sũng Sàm

Lịch sử khám phá văn hóa Hòa Bình

Vào năm 1923, bà Madeleine Colani cùng một số người hướng đạo địa phương khám phá ra một số lượng rất lớn di cốt người và dụng cụ bằng đá, trong một hang đá vôi tại tỉnh Hòa Bình. Trong các năm tiếp theo, bà liên tục khám phá thêm mười hai hang động trong vùng Hòa Bình, khai quật được một số lượng di vật hiếm thấy. Sau khi phân tích và so sánh liên hệ với một số đồ đá tìm thấy trong vùng núi Bắc Sơn, bà đề nghị xem toàn thể những di vật đặc biệt làm bằng đá cuội, với đặc điểm là chúng chỉ được đẽo ở lưỡi hay rìa, là của cùng một nền văn hóa, văn hóa Hòa Bình hay Hoabinhien.

Từ khi phát hiện các dụng cụ bằng đá và bằng xương tại một số di chỉ thuộc tỉnh Hòa Bình. Các nhà khảo cổ còn phát hiện ở rất nhiều địa điểm khắp các quốc gia trong vùng như Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia, Malaysia… cũng có những di tích có các công cụ cùng một kỹ thuật chế tác. Ngoài ra các nhà khảo cổ còn tìm thấy các dụng cụ bằng đá cùng một văn hóa sinh sống ở những vùng xa hơn như, Nhật Bản, Đài Loan,… Tại hội nghị “60 năm sau Hoabinhian” tổ chức tại Hà Nội, các nhà khảo cổ học thống nhất quan điểm về thuật ngữ Văn hóa Hòa Bình được xem như một định nghĩa để chỉ một nền văn hóa có cùng một kỹ thuật chế tác mà không xem như là nguồn gốc.

Một số di vật văn hóa hòa bình

Thời kỳ đầu thế kỷ 20

Vào nửa đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học vân còn chưa khám phá đủ số lượng cần thiết và nhiều địa điểm chưa được khám phá, dựa trên các dụng cụ thô sơ chỉ đẽo một mặt nên việc đánh giá các di vật này chưa được chính xác với tầm quan trọng của Văn hóa Hòa Bình.

Nhưng cho đến những năm 1960 các khám phá khảo cổ tạo được sự chú ý. Các nhà khảo cổ học thế giới tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, các đảo nam Thái Bình Dương khiến các nhà tiền sử học đặt lại vấn đề người tiền sử tại Đông Nam Á. Trước hết, nhà khảo cổ người Úc Gorman tìm thấy tại hang Ma (Spirit Cave) ở Thái Lan những dấu hiệu cho thấy người thuộc văn hóa Hòa Bình đã bắt đầu trồng trọt bầu bí sớm hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, từ cỡ hơn 11 ngàn năm trước.

Thời gian gần đây

Thời gần đây, các nhà khảo cổ học đã có nhiều khám phá mang tính đột phá khi quan niệm mới về sự tiện dụng trong vùng Đông Nam Á nhiệt đới cổ xưa không cần hoàn toàn dựa vào các công cụ sinh hoạt và kiếm ăn bằng đá cuội, khi quan sát các bộ lạc còn sót lại và bị biệt lập tại các đảo trong quần đảo Indonesia và tập quán dùng đồ tre, nứa, và các loại mũi tên tẩm độc để săn bắn các con thú lớn, cũng như tập tục ăn sò, ốc biển, ốc nước ngọt, các loại cá sẵn có trong các làn nước ấm. Luận điểm so sánh với các dụng cụ khác ở phương Tây đang được nhiều nhà khoa học xem xét lại.

Các di vật

Các di vật chính của thời kỳ Văn hóa Hòa Bình chính (niên đại sớm 12.000 năm cách ngày nay) tại tỉnh Hòa Bình và các tỉnh từ Quảng Bình cho đến Thái Nguyên là các dụng cụ bằng đá cuội được ghè đẽo một mặt, hoặc chỉ phần lưỡi. Các mảnh gốm không có hình thù do kỹ thuật nung chưa đạt nhiệt độ cao, đây là di tích đồ gốm xưa nhất của cư dân Văn hóa Hòa Bình. Cho đến nay đã tìm thấy; các dụng cụ đào bới có cán tra, các vòng trang sức bằng vỏ ốc. Cũng trong thời kỳ này các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hài cốt người cổ ở một vài địa điểm.

Văn hóa Hòa Bình 1
Công cụ sản xuất của cư dân Văn hóa Hòa Bình thời kỳ Đá mới được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hòa Bình.
Văn hóa Hòa Bình 2
Công cụ của người tiền sử thuộc nền Văn hóa Hòa Bình.

Các di chỉ

Các dii chỉ muộn của nền Văn hóa Hòa Bình đã được tìm thấy ở Bắc Sơn (niên đại sớm 5.000 TCN), thuộc tỉnh Lạng Sơn. Các dụng cụ bằng đá ở đây đã có một trình độ chế tác cao hơn nhiều, lưỡi đá đã được mài sắc, khảo cổ học gọi là “rìu Bắc Sơn“. Đồ gốm cũng đã có tiến bộ, kỹ thuật được làm thủ công, cư dân ở đây nặn các dải đất dài, rồi cuộn tròn từ đáy lên miệng và miết kín khe hở, nung gốm bằng cách đốt củi xung quanh. Đồ trang sức bằng đất nung có dùi lỗ và xâu thành chuỗi.

Văn hóa Hòa Bình 4
Hang xóm Trại (huyện Lạc Sơn) được đánh giá là di tích quan trọng bậc nhất, tiêu biểu cho Văn hóa Hòa Bình.

Nhận xét

Ngày càng có rất nhiều bằng chứngvề một nền văn minh Đông Nam Á làm lung lay nhiều thuyết tiền cổ đứng vững nhiều thập kỷ của thế kỷ 20. Người tiên phong trong việc đề xuất hướng mới cho nguồn gốc loài người là Wilhelm G. Solheim II, giáo sư Đại học Hawaii. Vào năm 1967, Solheim II đã cho công bố nhiều tài liệu nói về sự ra đời của việc trồng trọt, làm gốm, đóng thuyền, đúc đồ đồng…

Sau Solheim II, một số nhà khảo cổ học khác như Meacham ở Hồng Kông, Higham ở New Zealand, Pookajorn ở Thái Lan đều thống nhất quan điểm, vùng Đông Nam Á, từ Thái Lan sang Indonesia đến bán đảo Đông Dương, là cái nôi của nền văn minh Nam Á- Nam Đảo. Và mới đây, Stephen Oppenheimer còn đi xa hơn nữa, khi đưa ra thuyết rằng văn minh Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh phương Tây, rằng khi cư dân thềm Sunda đi di tản tránh biển dâng, họ đến vùng Lưỡng Hà – Trung Đông, mang theo kinh nghiệm trồng trọt, làm đồ gồm và sự tích Đại hồng thủy.

Chú ý rằng những đánh giá này chưa có cập nhật những thành tựu mới từ cuối thế kỷ 20 đến nay, trong đó có nghiên cứu sinh học phân tử, cho ra bằng chứng mới xác định loài người được hình thành từ châu Phi và phát tán ra khắp thế giới.

Nguồn:

vi.wikipedia.org

baomoi.com

About admin

Có thể bạn quan tâm

Lẫy nỏ- văn hóa đông sơn

Văn hóa Đông Sơn thời kỳ hoàng kim của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Văn hóa Đông sơn thuộc thời đại đồng thau – sắt sớm (sơ kỳ thời …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *