Home / Văn hóa / Trống đồng Việt Nam – giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật

Trống đồng Việt Nam – giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật

Trống đồng là một đề tài thu hút được sự quan tâm nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Theo thời gian, tư liệu và tri thức, những hiểu biết về trống đồng ngày càng được tích lũy. Theo đó, những vấn đề liên quan đến trống đồng đều được đặt ra và giải quyết. Tuy nhiên, mọi kết luận vẫn chưa đi đến hồi kết. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trong khu vức có đủ các lợi trống đồng, được phân bổ đậm nhạt khác nhau đối với các vùng, miền, theo từng loại hình. Tuy nhiên, xét trên tổng thể, trống đồng có mặt ở hầu hết các địa phương trên đất nước Việt Nam.

Các loại trống đồng

Trống đồng Đông Sơn (Heger I)

Loại trống đồng này xuất hiện nhiều nhất là ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, thưa hơn là ở các vùng núi phía Bắc, và tập trung ở vùng hạ lưu ba con sông lớn: sông Mã, sông Hồng và sông Cả. Đó là ba dòng sông tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Chính vì vậy, nhiều người gọi nền văn minh Đông Sơn là nền văn minh của những dòng sông.

Trống đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở các tỉnh phía Nam như: Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Dương, Kiên Giang… Đó là những vùng đất vốn cổ xưa không nằm trong không gian văn hóa Đông Sơn, theo đó có xu hướng thưa dần. Trống đồng Đông Sơn ở miền Nam Việt Nam thường được phát hiện ngẫu nhiên. Không đi liền với bộ di vật văn hóa Đông Sơn.

Trong khi đó ở miền Bắc trống được chôn trong những ngôi mộ cùng với nhiều đồ đồng, đồ gốm, đồ trang sức Đông Sơn như một phức hợp. Điều này cho thấy trung tâm vòng sóng Đông Sơn chính là lưu vực ba con sông: sông Hồng, sông Mã và sông Cả.

trống đồng hoàng hạ 1
Mặt trống đồng hoàng hạ
trống đồng hoàng hạ 2
Thân trống đồng hoàng hạ

Tuy nhiên, phát hiện gần đây ở Đắc Lắc, tại một khu vực nhỏ hẹp có tới hàng trăm chiếc trống đồng được chôn khá quy chuẩn, có quây đá xung quanh, làm liên tưởng tới những ngôi mộ có chôn theo trống đồng, giống như ở miền bắc hay một kho cất giấu trống, gợi nhắc về một nhóm cư dân sử dụng trống đồng Đông Sơn ở xa trung tâm? Rất tiếc là phát hiện này chỉ mang tính tự phát đã không giúp các nhà nghiên cứu tìm được câu trả lời xác đáng.

Trống Đông Sơn là sản phẩm của văn hóa Đông Sơn. Do vậy, niên đại của loại trống này nằm trong khung thời đại đồ đồng và đồ sắt sớm là hợp lý. Tuy nhiên, trong tập hợp trống đồng Đông Sơn vô cùng phong phú ở Việt Nam, có những trống và những nhóm trống sớm muộn khác nhau. Trong khi đó niên đại văn hóa Đông Sơn kéo dài hàng chục thế kỷ, là một thực tế cần khám phá, nghiên cứu.

Trống đồng Mường (Trống đồng Heger II)

Loại trống này được phân bố chủ yếu ở các tỉnh có đồng bào Mường sinh sống. Bao gồm phần lớn các tỉnh vùng Tây bắc và các tỉnh Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Ngoài những trống phát hiện ngẫu nhiên thì đa phần được tìm thấy trong những ngôi mộ Mường cổ, chúng có niên đại từ thế kỷ XI, XII đến thế kỷ XV, XVI. Trống đồng Mường được phát hiện thường là vật dụng kê quan tài, đồng thời cũng là đồ tùy táng.

Vì vậy, có ý kiến cho rằng chủ nhân của trống này là của người Mường. Dân tộc học lịch sử Mường cho hay, người Mường không có nghề thủ công đúc đồng truyền thống, không có nghề làm gốm. Chỉ có nghề dệt cổ truyền bổ sung cho nền kinh tế làm ruộng nước trong những thung lũng nhỏ hẹp. Thế nhưng trong các mộ táng giàu có, rất nhiều đồ đồng và đồ gốm được chôn theo. Đây là một hiện tượng cần được giải thích, đặc biệt là hiện tượng ấy có liên quan đến trống Heger II.

Trong tập hợp trống đồng Heger II phong phú ở Việt Nam, có thể phân thành hai khung niên đại chính:

Nhóm có niên đại sớm, khoảng thế kỷ I SCN. Trống có đặc điểm là mặt chờm ra khỏi tang, thân chia làm ba phần: tang, thân và chân, phân cách nhau bằng đường sống nổi. Hoa văn trang trí đơn giản, chủ yếu là hoa văn hình học tương đồng với hoa văn trên đồ gốm, đồ đất nung cùng thời.

Nhóm có niên đại muộn, sau thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, XIX. Nhóm này được chia làm hai loại.

Loại 1:

Loại này có hình dáng chia làm hai phần: tang và thân, phân cách nhau bằng sống nổi. Mặt trống chờm ra khỏi tang. Hoa văn trang trí phong phú: rồng, mây, hoa, lá tả thực. Kích thước loại này nhỏ. Tiêu bản điển hình là trống Xóm Rậm, Dân Hạ…có hoa văn đặc trưng thời Lý thế kỷ XI, XII, từng xuất hiện trên trang trí gốm, điêu khắc đá, trang trí gốm của thời đại này.

Loại 2:

Loại này có hình dáng, kích thước giống như trống Heger II, có niên đại thiên niên kỷ I SCN, nhưng hoa văn trang trí thiên về tả thực, hoa dây, lá đề có niên đại thế kỷ XIV, XV, XVI. Những trống Heger II muộn gồm trống Lai Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với hoa văn là rồng, kỳ lân, giống phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XVIII, XIX.

Trống Heger II niên đại sớm, chúng không chỉ được phát hiện ở vùng núi, địa bàn cư trú của người Mường, mà còn được tìm thấy ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ nên chúng được coi là sản phẩm tiếp nối của Heger I.

Trống Heger II niên đại muộn là sản phẩm của người Việt, bằng cách trao đổi, buôn bán, phong tặng đã đến vùng Mường khi nơi này vẫn giữ được truyền thống sử dụng trống như là vật biểu trưng cho quyền lực. Trong khi đó, ở dưới xuôi trống đi vào đời sống tâm linh và cung đình. Vì vậy, coi người Mường là chủ nhân của trống Heger II cũng là hợp lý.

Trống đồng Heger III

Loại trống này ở Việt Nam không có nhiều như hai loại trên. Trống được phân bố chủ yếu ở một số tỉnh biên giới vùng Tây bắc Việt Nam và một số huyện phía Tây của Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam…nhưng chủ yếu là không có xuất xứ, địa tầng, trừ trống Mường Thanh tìm thấy trong lòng đất, khi người dân làm nương phát hiện ở Lai Châu.

Trống Heger III có một số tiêu bản được lưu giữ trong một số bảo tàng ở Việt Nam, đều là quà của nước bạn Lào. Tiếp đó là những trống mới đúc, có kiểu dáng giống trống Heger III, nhưng trang trí hoa văn trống Heger I (Trống Đông Sơn), phát hiện tại sân bay Tân Sơn Nhất vào cuối những năm 70 của thế kỳ XX, nhưng lại được đúc ở Biên hòa, nên có người đã gọi nhóm trống này là trống Biên Hòa.

Trống Heger III ở Việt Nam rất ít, nhưng ở Đông Nam Á chúng có ở Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma… Chúng vẫn được dung trong sinh hoạt của người Hoa Kiều, người Khơ Mú và đặt trong hoàng cung ở Lào. Tuy nhiên trong văn hóa người Ka-ren người ta vẫn cho rằng, những trống Heger III là do người Khơ Mú tạo ra.

Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về niên đại của trống Heger III, nhưng có thể niên diểm khởi đầu của chúng là thế kỷ V SCN và kéo dài tới ngày nay.

Trống đồng Heger IV

Loại trống này ở Việt Nam tìm thấy nhiều ở vùng núi, bao gồm các tỉnh Hà giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên… đây là địa bàn cư trú của người Giáy, người Dao, người Pu Péo, người Thái… tuy nhiên mối quan hệ giữa loại trống này với người Lô Lô ở Hà Giang là khá đậm nét, thông qua sự can dự của trống trong các lễ nghi, tang ma khá cầu kỳ của dân tộc này.

Trống Heger IV được truyền đời trong tộc người Lô Lô mà trống Nậm Ban (Hà Giang) có được những ghi chép khá chi tiết. Ngoài ra, trống loại này còn tìm thấy trong lồng đất như Cốc San, Na Ngườm.

Qua các tài liệu dân tộc học, hiện nay có khoảng 20 dân tộc sử dụng trống Heger IV, kể cả những tộc người không phải là bản địa phương Nam. Tuy nhiên, trống Heger IV có quan hệ mật thiết với người Việt phương Nam (Âu Việt, Lạc Việt), mà ngày nay người Choang, người Dao ở Quảng Tây Trung Quốc hay người Lô Lô ở Hà Giang vẫn sử dụng như là một nhu cầu tất yếu trong đời sống cộng đồng.

Trống Heger có niên đại từ thời Bắc Tống đến cuối thời Thanh (Thế kỷ X, XI đến thế kỷ XVIII, XIX).

Các chức năng chính của trống đồng.

Trống Đồng ở Việt Nam có lịch sử phát triển lâu dài. Theo thời gian văn hóa ứng xử văn hóa với trống đồng – mà ngày nay chúng ta gán đặt là chức năng trống, có nhiều sự thay đổi. Trống đồng là vật dụng ưa thích của nhiều tộc người, và theo truyền thống, tâm lý, tôn giáo, họ có nhiều cách ứng xử khác nhau với trống đồng. vì vậy chức ngăng của trống đồng là vô cùng phong phú. Tuy nhiên trống đồng có một số chức năng chính sau:

Trống đồng là một nhạc khí.

Theo đúng với tên gọi của nó là một loại trống. Nhạc khí này không chỉ dùng trong lễ hội, những điệu múa hóa trang có liên quan tới nghi lễ nông nghiệp. Nhạc khí ấy còn được dùng trong dàn nhạc cung đình, dàn nhạc cúng tế, âm nhạc mua vui, thiết đãi khách…

Trống đồng dùng để thờ

Chức năng nổi bật nhất của trống đồng đó là dùng để thờ. Trống được thờ trong đình, từ đường, chùa và đền. Tất cả đều liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc phương Đông.

Ở Việt Nam, tục thờ trống đồng có từ rất sớm. Những ghi chép đầu tiên được biết tới từ thế kỷ X, khi Đinh Tiên Hoàng đã thu thập trống đồng và phong tặng cho các địa phương để thờ. Đến thời Lý, khi Lý Thái Tông còn là Thái tử, hành quân qua núi Đồng Cổ, nằm mộng thấy Thần Núi, sau này ông cho lập miếu thờ thần ở Thăng Long. Đến thời Tây Sơn, con trai vua Quang Trung là Nguyễn Quang Bàn cũng lập đền thờ trống đồng ở núi Đồng Cổ làng An Nê, huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.

Tới gần đây, trống Ngọc Lũ, Thượng Lâm còn được thờ trong đình, đền mà sự linh thiêng, tôn kính của cộng đồng dân cư cả một vùng rộng lớn vẫn còn nguyên vẹn.

Tục thờ trống đồng không chỉ có ở Việt Nam mà còn có cả ở những vùng phân bổ trống đồng ở miền Nam Trung Quốc cũng khá phổ biến. Dường như đó là một hiện tượng của cả vùng Đông Nam Á.

Trống đồng dùng trong tang lễ

Ngay từ thời nhà Trần, thế kỷ XIII – XIV khi vua chết thường được khuachieeng, khua trống để thống báo cho bàn dân thiên hạ được biết. Người Lô Lô ở Mèo Vạc, Hà Giang dùng trống đồng trong lễ tang ma vô cùng phức tạp của họ. Có lẽ vì thế, nên ở một số địa phương miền núi phía Bắc Việt Nam, trống đồng luôn được các thầy mo (thầy cúng) cất giữ.

Trống đồng dùng trong lễ cầu mưa

Trống đồng dùng trong lễ cầu mưa, cầu mua màng, mà những di ảnh của nó còn đọng lại ở một nhóm đồng bào Mường huyện Thanh Sơn Phú Thọ hay người Khơ Mú ở vùng Tây Bắc.

Những nghi chép dân tộc học của người Xá nói rằng, khi vào mua nương rấy, để cầu cho mua màng tươi tốt, thu hoạch bội phần, nhân dân ở đây khi làm lễ cúng thường lấy máu gà tưới lên mặt trống với những lời cầu chúc cho trống có tiếng kêu âm vang, mang lại sự phấn khởi trước khi bắt tay vào phát rấy, làm nương.

Trống đồng biểu trưng cho quyền lực

Trong rất nhiều văn liệu nghiên cứu về trống đồng, ta còn thấy trống đồng có liên quan tới quyền lực. Đó là biểu tượng quyền lực của tù trưởng, đến biểu tượng quyền lực của nhà vua.

Ở Việt Nam, xã hội Mường cổ thấy rất rõ điều này. Trong các ngôi mộ của người Mường giàu có, trên bia mộ còn ghi rõ đó là những ngôi mộ của các Lang Cun – người cai quản nhiều Mường nhỏ, có uy lực, bởi được vua ban cho nhiều chức tước, nhiều bổng lộc, thậm chí cả gả công chúa cho họ, nhăm ràng buộc họ với chính quyền trung ương để giữ yên biên cương.

Trống đồng trong lịch sử được sử dụng và sở hữu trong nhiều cộng đồng dân cư. Theo đó, còn bao chứa nhiều chức năng khác. Như xua đuổi thú dữ, trống hiệu trận mạc, và còn được dùng trong đời sống hàng ngày, làm đồ đựng, đồ trang trí… Đó là những điều khiến cho văn hóa trống đồng luôn có sức sống mãnh liệt trong đời sống cộng đồng dân cư Việt Nam nói riêng và cộng đồng dân cư Đông Nam Á nói chung.

Giá trị nghệ thuật trên trống đồng.

Ngoài những giá trị về lịch sử và văn hóa, thì giá trị nghệ thuật trên trống đồng cũng là một di sản vô cùng phong phú. Nó thể hiện tâm thức, tư duy, tín ngưỡng… của cư dân cổ xưa, mà chắc chắn một điều rằng, còn lâu nữa chúng ta mới có thể tập hợp và giải mã được hết.

Nghệ thuật hội họa.

Nghệ thuật hội họa trên trống đồng Heger I phong phú và sống động, được biểu hiện trên hai mảng:

Mảng nghệ thuật tả thực

Nghệ thuật tả thực có nhiều đề tài như: muông thú, chim cá, đời sống của cư dân…, nhưng có lẽ nổi bật nhất là đề tài có liên quan đến nông nghiệp. Những lễ hội đua thuyền hào hứng, sôi nổi được khắc họa trên những chiếc thuyền lá tre mỏng manh với hàng người ngồi hàng dọc trèo thuyền. Khiến chúng ta liên tưởng tới những ngày lế đua thuyền còn hiện hữu ở một số cộng đồng cư dân liên quan đến sông nước, hải đảo và biển cả.

Đời sống nông nghiệp còn nhận ra qua các cảnh lễ hội nhảy múa, hóa trang với tiếng khèn tưng bừng và réo rắt của nam nữ, qua những vũ điệu, như những đêm lễ hội. hiện còn lưu giữ trong một số cộng đồng dân tộc ít người miền núi, sau một mùa bội thu.

Nông nghiệp còn gắn với đề tài nam nữ giã gạo. Từng đôi, từng đôi đứng đối diện, dùng chày giã, như một hình ảnh đắt giá nhất trong hàng chuỗi những tín hiệu âm – dương được biểu hiện trên trống đồng, rất trừu tượng, nhứng cũng rất dễ nhận ra. Quan niệm ấy gần đây vẫn còn trong đời sống của người Lô Lô vùng Hà Giang, trong cặp đôi trống đồng được lưu trong gia tộc hoặc được phát hiện dưới lòng đất.

Mảng hoa văn hình học

Các hoa văn hình học trên trống đồng bao gồm: vòng tròn tiếp tuyến, vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có chấm giữa, chữ “S” gấp khúc, ô tram đơn, ô tram lồng, vạch ngắn song song, tam giác chìm nổi… thường được bố cục trong các bang hẹp, tôn cho những bang hoa văn chủ đạo.

Ngôn ngữ ẩn chứa bên trong những băng hình học này còn vô cùng bí ẩn, nhưng có lẽ đó là sự phản ánh các hiện tượng tự nhiên, các hình ảnh trực quan trong đời sống, hay những tín hiệu cổ trừu tượng trong tư duy cổ xưa…

Thế nhưng, có một điều khẳng định rằng, thời đó đã có sự giao thoa giữa nghệ thuật trang trí trên gốm với nghệ thuật trí trên đồng. Và sự thành công trên nghệ thuật đúc đồng chính là tạo nên sự hài hòa, nhịp điệu trong việc phối kết hợp giữa tả thực và hình học.

Tài liệu tham khảo: Trống đồng Việt Nam giá trị lịch sử và nghệ thuật

Nhà xuất bản văn hóa dân tộc

About admin

Có thể bạn quan tâm

Gốm trù xứ nghệ 2

Gốm Trù xứ Nghệ – Một làng gốm truyền thống đặc sắc

Gốm Việt Nam trong nhiều năm qua đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu, …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *