Home / Nhân vật lịch sử / Lê Phụng Hiểu Đô thống Thượng tướng quân

Lê Phụng Hiểu Đô thống Thượng tướng quân

Lê Phụng Hiểu (? – ?) là một Đại tướng nhà Lý. Ông làm quan, phụng sự hai đời Hoàng Đế đầu triều nhà Lý là vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) và vua Lý Thái Tông (1028 – 1054). Ông là người có công rất lớn trong việc phò vua Lý Thái Tông tức Lý Phật Mã lên ngôi.

Lê Phụng Hiểu quê ở hương Băng Sơn, tổng Dương Sơn, huyện Cổ Đằng, lộ Thanh Hoá (nay thuộc xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện không rõ năm sinh năm mất. Theo sử sách ghi lại được, ông thọ tới tuổi 77. Ngay từ thuở nhỏ, ông rất yêu thích và ham mê các môn võ thuật như: đấu quyền, múa kiếm, ném đao. Ông lớn lên nổi tiếng là người sức khỏe muôn địch, võ nghệ hơn người, là đô vật có tiếng với nghệ danh đô Bưng (Băng).

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại câu chuyện kỳ thú về sức mạnh của ông. Bấy giờ, hai làng Cổ Bi và Đàm Xá nổ ra việc giành đất. Làng Đàm Xá cậy đông người đã chém hẳn doi đất màu mỡ mà lẽ ra phải thuộc về làng Cổ Bi. Lê Phụng Hiểu lúc đó chưa làm quan, đứng ra giúp làng Cổ Bi. Ông nói: “Một mình tôi có thể đánh được bọn họ”. Dân làng Cổ Bi rất mừng, liền bày ra nhiều mâm cỗ to để thiết đãi. Ông đủng đỉnh ăn hết rồi ngủ một giấc no say.

Chờ đến khi dân làng Đàm Xá đến tranh đất, Phụng Hiểu tỉnh dậy rồi cứ đứng thế xông ra giữa đám trai tráng làng Đàm Xá mà đánh. Ông xắn tay áo, nhổ những cây bên đường làm vũ khí. Sức khỏe của ông khiến cả làng Đàm Xá khiếp sợ, đành phải trả lại ruộng cho làng Cổ Bi. Từ đó, Đàm Xá không dám ỷ thế cậy đông mà chèn ép làng Cổ Bi nữa.

Bấy giờ, vua Lý Thái Tổ xuống chiếu, tuyển chọn những người có sức khỏe để sung vào đội quân túc vệ. Lê Phụng Hiểu trúng tuyển. Nhờ làm việc siêng năng, ông được khen ngợi và cất nhắc dần tới chức Vũ vệ Tướng quân, đứng ngang hàng với các tướng như Đàm Thận, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư…

 Lý Thái Tổ xuống chiếu, tuyển đội quân túc vệ, Lê Phụng Hiểu trúng tuyển

 Tượng vua Lý Thái Tổ dựng năm 2004, đặt tại vườn hoa Lý Thái Tổ, đường Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Ngày mùng 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), sau khi vua Lý Thái Tổ vừa mất, chưa làm lễ táng, các hoàng tử Vũ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính Vương không chấp nhận việc Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử.

Thái tử Phật Mã biết là có biến, bèn sai người đóng hết các cửa điện, rồi bảo rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa như thế, quên di mệnh của Tiên đế, muốn mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”. Các quan cùng xin Thái tử cho đem quân ra thành quyết được thua một trận.

Lê Phụng Hiểu cùng một số tướng khác như Lý Nhân Nghĩa, Dương Bình, Quách Thịnh… đưa quân ra ngăn chặn. Khi quân của Thái tử và quân của các vương giáp trận, Lê Phụng Hiểu đã rút gươm, hô to lên rằng: “Bọn Vũ Đức Vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua kế vị vào đâu, trên thì quên ơn Tiên đế, dưới thì trái nghĩa tôi con. Vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng”.

Dứt lời, Phụng Hiểu vung gươm chém chết Vũ Đức Vương. Quân của ba vương thấy thế, hốt hoảng rủ nhau tháo chạy. Phụng Hiểu quay ngựa về cung báo cho Thái tử Phật Mã biết. Phật Mã hết sức ca ngợi lòng trung dũng của ông, sau khi lên ngôi đã phong ông làm Đô thống Thượng tướng quân, tước Hầu.

Năm 1044, quân Chiêm Thành sang xâm lược nước ta, Đô thống Lê Phụng Hiểu hộ giá nhà vua đi đánh giặc. Ông làm tướng tiên phong, lập công lớn, danh tiếng lừng lẫy. Khi chiến thắng trở về, nhà vua định công, phong thưởng. Xét thấy quyền lực, bạc vàng đều là phù du, ông liền nói với vua: “Thần không muốn thưởng tước, cũng không dám tham lam công khố, chỉ xin cho về ở núi Băng Sơn, ném dao lớn đi xa, dao rơi đến chỗ nào trong đất công thì xin ban cho làm sản nghiệp”.

Vua nghe theo. Phụng Hiểu lên núi, ném dao xa đến hơn mười dặm, rơi xuống thôn Đa Mi. Vua lấy số ruộng ấy ban cho, tha thóc thuế cho ruộng ném dao ấy.

Tục truyền rằng Phụng Hiểu vốn sức khỏe hơn người. Đứng trên núi Băng Sơn, con dao trong tay ông ném ra có thể bay qua cả kinh thành Thăng Long, nếu ông ném hết sức thì đất đai nhà vua sẽ là của ông cả. Từ đó, người vùng Thanh Hóa gọi ruộng thưởng công là “ruộng thác đao”.

Sau đó, ông còn nhiều lần cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành và đều chiến thắng mới trở về. Ông sống hết lòng trung thành với vua, biết điều gì có lợi cho dân cho nước đều bàn với vua. Sau khi ông mất (thọ 77 tuổi), nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ ông.

Đền thờ Đô thống Lê Phụng Hiểu

Đền thờ Đô thống Lê Phụng Hiểu thuộc khu Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.

Đô thống Lê Phụng Hiểu – người có nhiều công lao với vương triều Lý. Tên tuổi và công trạng của ông không những được sử sách lưu danh, mà còn được dân gian truyền tụng. Nhiều làng xã ở xứ Kinh Bắc – Bắc Ninh, nơi ông từng lưu lạc thuở nhỏ và đóng quân đánh giặc, đã thờ ông làm Thành hoàng, tiêu biểu là đền Hòa Đình. Hằng năm cứ đến mùng 6 tháng 2 (âm lịch) đền lại mở hội. Trong các trò chơi dân gian có tục thi vật để tưởng nhớ đến Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu.

Nguồn:

–  Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, “Lê Phụng Hiểu (Thế kỷ XI)”, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, H.: Giáo dục, 2005, tr.179-180.

–  Lê Văn Lan, “Lê Phụng Hiểu (Thế kỷ XI), Danh nhân Hà Nội, H.: Nxb Hà Nội, 2004, tr. 74-79.

About admin

Có thể bạn quan tâm

Luật sư Vũ Trọng Khánh với chủ tịch Hồ Chí Minh

Luật sư Vũ Trọng Khánh -Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên, Người chấp bút cho Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Luật sư Vũ Trọng Khánh, sinh năm 1912, quê quán ở thôn Cự Đà, xã …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *